Dựa vào nội dung và nét đặc sắc nghệ thuật trong thơ mà bài thơ được chia làm 3 khổ thơ: Khổ 1: Nội dung nói về hình ảnh vườn thôn Vĩ Dạ hiện lên trong tâm trí tác giảKhổ 2: Khổ thơ này nói về hình ảnh một đêm trăng sáng, sông nước nơi xứ Huế. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được tác giả sáng tác 1938 sau này được đưa vào tập Thơ Điên (sau đổi tên thành Đau thương). Đây thôn Vĩ Dạ được nhiều người cho rằng đã lấy nguồn cảm hứng từ mối tình của tác giả với cô gái ở làng Vĩ Dạ, gần bên sông Hương thơ mộng. II. Đặc sắc nội dung, nghệ thuật. Đặc sắc nội dung. - Nghệ thuật liên tưởng, so sánh, nhân hóa, cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, Hàn Mặc Tử đã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống. 2.Nội dung - Bài thơ là một bức tranh toàn bích về cảnh vật và con người thôn Vĩ. Phân tích bài thơ Đây thôn vĩ dạ . xứ Huế qua những vần thơ của một nhà thơ đặc biệt trong phong trào thơ Mới: thi sĩ Hàn Mặc Tử và tác phẩm nổi tiếng: Đây Thôn Vĩ Dạ. Hoạt động của GV. dẫn trong SGK, Em hãy tình bày hiểu biết của mình về nhà thơ Hàn Mặc Tử và Là người đã bật lên những tiếng thơ, tiếng khóc của nghệ thuật trước cuộc đời. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của ông. Mở đầu bài thơ hàn Mặc Tử đã sử dụng một lời trách móc nhẹ nhàng nhưng đồng thời cũng là sự gửi SXWxe6r. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử sẽ được hướng dẫn tìn hiểu trong chương trình Ngữ Văn lớp 11. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Hôm nay, THPT Ngô Thì Nhậm mời bạn đọc tham khảo tài liệu giới thiệu về Hàn Mặc Tử và nội dung bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được đăng tải dưới đây. Đây thôn Vĩ DạI. Đôi nét về tác giả Hàn Mặc TửII. Giới thiệu về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ1. Hoàn cảnh sáng tác2. Bố cục3. Nội dung4. Nghệ thuật Sao anh không về chơi thôn Vĩ?Nhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọcLá trúc che ngang mặt chữ điền. Bạn đang xem Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Gió theo lối gió, mây đường mây,Dòng nước buồn thiu, hoa bắp layThuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay? Mơ khách đường xa, khách đường xaÁo em trắng quá nhìn không raỞ đây sương khói mờ nhân ảnhAi biết tình ai có đậm đà? I. Đôi nét về tác giả Hàn Mặc Tử – Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng khẳng định “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”. Quả thật Hàn Mặc Từ là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo nhất trong phong trào Thơ mới. – Hàn Mặc Tử 1912 – 1940, tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí. – Quê ở làng Lệ Mỹ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới nay là tỉnh Quảng Bình trong một gia đình viên chức nghèo theo đạo Thiên Chúa. – Cha của ông mất sớm, Hàn Mặc Tử sống với mẹ ở Quy Nhơn và học trung học ở trường Pe-lơ-ranh ở Huế hai năm. – Sau đó ông về làm công chức ở Sở Đạc điền Bình Định, rồi vào Sài Gòn làm báo. – Năm 1936, Hàn Mặc Tử bị mắc bệnh phong, về ở tại Quy Nhơn chữa bệnh và mất tại trại phong Quy Hòa. – Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ mới. – Ông làm thơ từ năm 14, 15 tuổi với các bút danh như Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh… Ban đầu, ông sáng tác theo khuynh hướng thơ Đường cổ điển, sau đó thì chuyển hẳn sang khuynh hướng lãng mạn. – Hồn thơ Hàn Mặc Từ nổi bật với những tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời trần thế. – Một số nhận định về Hàn Mặc Tử “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”. Chế Lan Viên “…Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng…” và “Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh…” Hoài Thanh – Các tác phẩm chính Gái quê 1936, thơ, Thơ Điên 1938, sau đổi thành Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ kịch thơ, 1939… II. Giới thiệu về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ 1. Hoàn cảnh sáng tác – “Đây thôn Vĩ Dạ” lúc đầu có tên là “Ở đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác năm 1938. – Bài thơ được in trong tập Thơ Điên về sau tập thơ này đổi tên thành Đau thương. – “Đây thôn Vĩ Dạ được gợi cảm hứng từ mối tình đầu của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở Vĩ Dạ – một thôn nhỏ bên dòng sông Hương Huế. – GS. Nguyễn Đăng Mạnh từng cho biết “Hồi làm nhân viên ở sở đạc điền Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử có thầm yêu trộm nhớ đơn phương một cô gái người Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc, con ông chủ sở. Một thời gian sau, nhà thơ vào Sài Gòn làm báo, khi trở lại Quy Nhơn thì cô gái đã theo gia đình về Vĩ Dạ Huế. Một buổi kia, cô Cúc do sự gợi ý của một người em thúc bá, bạn của Hàn Mặc Tử, gửi vào cho nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp một phong cảnh sông nước có thuyền và bến, kèm theo mấy lời thăm hỏi để an ủi nhà thơ lúc này đã mắc hiểm nghèo bệnh phong. Lời thăm hỏi không ký tên, nhưng bức ảnh và những dòng chữ kia đã kích thích trí tưởng tượng, cảm hứng và đã gợi dậy những gì thầm kín xa xưa của Hàn Mặc Tử…” 2. Bố cục Gồm 3 phần Phần 1. Khổ thơ thứ nhất Khung cảnh thiên nhiên nơi thôn Vĩ. Phần 2. Khổ thơ thứ hai Khung cảnh sông nước đêm trăng, tâm trạng của nhà thơ. Phần 3. Khổ thơ cuối cùng Khát vọng tình yêu, cuộc sống của nhà thơ. 3. Nội dung Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là bức tranh thiên nhiên đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người. 4. Nghệ thuật Hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng… Đăng bởi Trường THPT Ngô Thì Nhậm Chuyên mục Giáo Dục Xem thêm Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử sẽ được hướng dẫn tìn hiểu trong chương trình Ngữ Văn lớp 11. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Hôm nay, THPT Ngô Thì Nhậm mời bạn đọc tham khảo tài liệu giới thiệu về Hàn Mặc Tử và nội dung bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được đăng tải dưới đây. Đây thôn Vĩ Dạ Sao anh không về chơi thôn Vĩ?Nhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọcLá trúc che ngang mặt chữ điền. Gió theo lối gió, mây đường mây,Dòng nước buồn thiu, hoa bắp layThuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay? Mơ khách đường xa, khách đường xaÁo em trắng quá nhìn không raỞ đây sương khói mờ nhân ảnhAi biết tình ai có đậm đà? I. Đôi nét về tác giả Hàn Mặc Tử – Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng khẳng định “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”. Quả thật Hàn Mặc Từ là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo nhất trong phong trào Thơ mới. – Hàn Mặc Tử 1912 – 1940, tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí. – Quê ở làng Lệ Mỹ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới nay là tỉnh Quảng Bình trong một gia đình viên chức nghèo theo đạo Thiên Chúa. – Cha của ông mất sớm, Hàn Mặc Tử sống với mẹ ở Quy Nhơn và học trung học ở trường Pe-lơ-ranh ở Huế hai năm. – Sau đó ông về làm công chức ở Sở Đạc điền Bình Định, rồi vào Sài Gòn làm báo. – Năm 1936, Hàn Mặc Tử bị mắc bệnh phong, về ở tại Quy Nhơn chữa bệnh và mất tại trại phong Quy Hòa. – Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ mới. – Ông làm thơ từ năm 14, 15 tuổi với các bút danh như Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh… Ban đầu, ông sáng tác theo khuynh hướng thơ Đường cổ điển, sau đó thì chuyển hẳn sang khuynh hướng lãng mạn. – Hồn thơ Hàn Mặc Từ nổi bật với những tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời trần thế. – Một số nhận định về Hàn Mặc Tử “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”. Chế Lan Viên “…Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng…” và “Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh…” Hoài Thanh – Các tác phẩm chính Gái quê 1936, thơ, Thơ Điên 1938, sau đổi thành Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ kịch thơ, 1939… II. Giới thiệu về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ 1. Hoàn cảnh sáng tác – “Đây thôn Vĩ Dạ” lúc đầu có tên là “Ở đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác năm 1938. – Bài thơ được in trong tập Thơ Điên về sau tập thơ này đổi tên thành Đau thương. – “Đây thôn Vĩ Dạ được gợi cảm hứng từ mối tình đầu của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở Vĩ Dạ – một thôn nhỏ bên dòng sông Hương Huế. – GS. Nguyễn Đăng Mạnh từng cho biết “Hồi làm nhân viên ở sở đạc điền Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử có thầm yêu trộm nhớ đơn phương một cô gái người Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc, con ông chủ sở. Một thời gian sau, nhà thơ vào Sài Gòn làm báo, khi trở lại Quy Nhơn thì cô gái đã theo gia đình về Vĩ Dạ Huế. Một buổi kia, cô Cúc do sự gợi ý của một người em thúc bá, bạn của Hàn Mặc Tử, gửi vào cho nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp một phong cảnh sông nước có thuyền và bến, kèm theo mấy lời thăm hỏi để an ủi nhà thơ lúc này đã mắc hiểm nghèo bệnh phong. Lời thăm hỏi không ký tên, nhưng bức ảnh và những dòng chữ kia đã kích thích trí tưởng tượng, cảm hứng và đã gợi dậy những gì thầm kín xa xưa của Hàn Mặc Tử…” 2. Bố cục Gồm 3 phần Phần 1. Khổ thơ thứ nhất Khung cảnh thiên nhiên nơi thôn Vĩ. Phần 2. Khổ thơ thứ hai Khung cảnh sông nước đêm trăng, tâm trạng của nhà thơ. Phần 3. Khổ thơ cuối cùng Khát vọng tình yêu, cuộc sống của nhà thơ. 3. Nội dung Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là bức tranh thiên nhiên đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người. 4. Nghệ thuật Hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng… Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Hãy đọc qua tác phẩm này và nêu nội dung cũng như đặc sắc nghệ thuật nổi bật. Nội dung nghệ thuật bài Đây thôn Vĩ Dạ I. Tác giả, tác phẩm Hàn Mặc Tử nhà thơ nổi tiếng của phong trào thơ mới, cuộc đời ông là nhà thơ tài hoa nhưng bạc mệnh, bệnh tật khiến ông mất sớm. Thơ của hàn Mặc Tử được người đời đánh giá kì lạ, độc đáo. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được tác giả sáng tác 1938 sau này được đưa vào tập Thơ Điên sau đổi tên thành Đau thương. Đây thôn Vĩ Dạ được nhiều người cho rằng đã lấy nguồn cảm hứng từ mối tình của tác giả với cô gái ở làng Vĩ Dạ, gần bên sông Hương thơ mộng. II. Bố cục bài thơ Bài thơ “Đây thôn vĩ dạ” được chia làm ba đoạn tương ứng với ba khổ thơ + Khổ 1 Trong tâm tưởng của thi sĩ, hình ảnh vườn Vĩ Dạ hiện lên trong ban mai + Khổ 2 Hình ảnh đêm trăng, sông nước xứ Huế và tâm trạng của nhà thơ + Khổ 3 Hình bóng khách đường xa hiện lên trong trí tưởng tượng của nhà thơ với nỗi niềm hoài nghi. III. Đặc sắc nội dung, nghệ thuật Đặc sắc nội dung Qua góc nhìn của tác giả bức tranh thiên nhiên làng Vĩ Dạ hiện lên thật gần gũi, giản dị nhưng cũng đầy mơ hồ và kì bí có nét rất riêng của xứ Huế mộng mơ. Bài thơ có 3 khổ riêng biệt nhưng vẫn liên kết lại giúp người đọc có được cảm nhận về thiên nhiên và con người Vĩ Dạ, thiên nhiên thật tinh khôi, giản dị với con người nơi này nhất là cô gái ở làng Vĩ Dạ. Cảm xúc của tác giả thật mãnh liệt đó là tình yêu cuộc sống da diết. Đây thôn Vĩ Dạ chính là sự bày tỏ tình yêu quê hương, con người xứ Huế mộng mơ của chính tác giả. Sự khát khao sống của nhân vật trữ tình ẩn trong mỗi đoạn thơ. Đặc sắc nghệ thuật Bài thơ sử dụng các ngôn từ trong sáng, gần gũi, mang lại cảm giác gợi hình gợi cảm cao. Kết hợp tả cảnh với những hình ảnh tượng trưng mang lại nhiều hình ảnh riêng, độc đáo trước đây chưa từng có. Nhiều câu hỏi tu từ, với giọng thơ da diết, như hờn trách. Mỗi khổ thơ đều ẩn chứa tâm tư, tình cảm của tác giả của nhân vật trữ tình. Bài thơ dù không theo thứ tự nhất định nhưng lại hoàn toàn phù hợp với dòng tâm tư và cảm xúc của tác giả. IV. Đặc sắc nghệ thuật trong từng khổ thơ Khổ 1 – Câu đầu tiên tác giả sử dụng câu hỏi tu từ như là một lời mời gọi tha thiết nhưng cũng chính là lời tự trách của bản thân “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Những ai khi đọc câu thơ đầu tiên đều đọng lại trong lòng một nỗi niềm da diết. – Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ “nắng hàng cau” – “xanh như ngọc” vẻ đẹp lấp lánh của hàng cau với ánh nắng của buổi ban mai, làm hiện lên hình ảnh lãng mạn, ấm áp + Hình ảnh “xanh ngọc” làm hiện lên sự tươi xanh của khu vườn như một viên ngọc bích khổng lồ, tràn đầy sức sống. + Hình ảnh “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” có nhiều cách hiểu khác nhau hình ảnh những cô gái Huế duyên dáng, dịu dàng hay hình ảnh lén lút của thi sĩ khi trở về thôn bắt gặp những hình ảnh đẹp đẽ. Khổ 2 – Sử dụng điệp cấu trúc “Gió theo lối gió, mây đường mây” thể hiện nét thú vị cho câu thơ. Hình ảnh gió và mây hiện lên đầy thú vị mang hình dáng của sự chia ly, mỗi người một nẻo. – Nghệ thuật nhân hóa “dòng nước buồn thiu”. Theo tâm trạng của tác giả, cảnh cũng không vui bao giờ. Nghệ thuật nhân hóa cũng góp phần thể hiện tâm trạng của nhà thơ thêm rõ nét. – Câu hỏi tu từ cuối đoạn thơ “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Đây là lời tự hỏi lòng của tác giả. Nó thể hiện nỗi buồn của nhà thơ muốn ngắm trăng nhưng hiện thực lại quá xa vời, khó nắm bắt. Khổ 3 – Nghệ thuật cực tả “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Khi mà giấc mơ ngắm trăng đã tan tành, thi sĩ chỉ còn gửi gắm nỗi niềm vào người yêu. Nhưng hình bóng năm xưa nay đã không còn mà chỉ còn lại trong trí tưởng tượng của nhà thơ mà thôi. “Trắng quá” là lối miêu tả cực đại, thể hiện sự tận cùng của màu sắc cũng như nỗi nhớ của người thi sĩ. – Câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà?” là lời tự bộc bạch của nhà thơ. Bằng việc kết hợp với đại từ phiếm chỉ “ai” làm cho lời tự hỏi càng thêm khó xác định. >> Đón xem dàn ý bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ lớp 11. Lớp 11 – A. SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý B. DÀN BÀI CHI TIẾT 1. Mở bài Giới thiệu khái quát về tác giả Hàn Mặc Tử Hàn Mặc Tử 1912 - 1940, tên thật là Nguyễn Trọng Trí Quê ở làng Lệ Mỹ, tổng Võ Xá - Phong Lộc - Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Là một trong những cây bút tài năng của phong trào Thơ Mới Dẫn dắt vấn đề Thế giới nghệ thuật trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử là một thế giới với những hình ảnh thơ mộng, ngôn từ tinh tế,... 2. Thân bài Định nghĩa Thế giới nghệ thuật là gì? Khái niệm Thế giới nghệ thuật xuất hiện từ yêu cầu muốn tiếp cận tác phẩm văn học trong dạng chỉnh thể từ những năm 70 của thế kỉ XX. Theo ngành Thi pháp học “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật một tác phẩm một loại hình sáng tác của một tác giả, một trào lưu. Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người mặc dù nó phản ánh thế giới ấy. Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có qui luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng…chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật…. Như vậy, mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới… Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới một cách cắt nghĩa về thế giới… Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ. Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, Thế giới nghệ thuật trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Nhìn từ góc độ không – thời gian Chronotope bài thơ gồm ba khổ nhưng giữa ba khổ không hề có sự liên kết với nhau theo tính liên tục của không gian và thời gian. Thời gian trong bài thơ tồn tại không có tính liên tục mà bị đứt nối, ngắt quãng cảnh thôn Vĩ vào buổi sáng tinh mơ khổ 1, cảnh đêm trăng khổ 2 và sự vô thức, không đoán định về mặt thời gian khổ cuối. Không gian cũng không tuân theo một trình tự nào. Không gian trong bài thơ là không gian của sự chia lìa, không gian giữa thực và hư của hai vùng đất xứ Vĩ Dạ và vùng đất Qui Nhơn. ⇒ Vậy bài thơ liên kết với nhau như thế nào? Nó được liên kết thông qua mạch cảm xúc được vận động một cách nhất quán trong dòng ý thức, suy tưởng của nhân vật trữ tình. Đây là nét độc đáo của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Tính hàm súc, mới lạ của ngôn từ, các biện pháp tu từ Đại từ phiếm chỉ “Ai” Câu hỏi tu từ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, “Có chở trăng về kịp tối nay?” và “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Những câu hỏi không cần phải có câu trả lời nhưng nó lại chứa đựng biết bao sự đau đớn, hoài nghi và bế tắc nhưng cũng đầy niềm hy vọng, khát khao của nhân vật trữ tình. Hình ảnh đầy chất thơ và gợi cảm Hình ảnh gần gũi, nên thơ của thôn Vĩ nắng sớm, hàng cau, khu vườn, lá trúc, bến nước, con thuyền, trăng,… khổ 1; Hình ảnh của sự chia lìa gió, mây, dòng nước, hoa bắp, trăng khổ 2; Hình ảnh đầy mộng ảo, mơ hồ khổ 3. Nhịp thơ có sự đứt gãy bất thường câu thơ thất ngôn thường ngắt nhịp 2/2/3 những lại được ngắt nhịp 4/3. ⇒ Nhịp điệu và hình ảnh thơ gợi lên những ý nghĩa mới trong văn học. 3. Kết bài Tóm tắt lại những nét đặc sắc về thế giới nghệ thuật của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Sự kết nối bài thơ không nằm trong logic thông thời theo trật tự không - thời gian tuyến tính mà nằm ở sự chuyển biến tâm trạng của nhân vật trữ tình. Sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các biện pháp tu từ ẩn dụ, đại từ, câu hỏi tu từ,... Gợi mở thêm vấn đề ngoài bài thơ Đây thông Vĩ Dạ, thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc tử cũng là một trong những đề tài được nhiều người quan tâm. C. BÀI VĂN MẪU Đề bài Nét nghệ thuật trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Gợi ý làm bài Hàn Mặc Tử là một hiện tượng thơ kì lạ vào bậc nhất của phong trào Thơ mới. Đọc thơ Hàn thi sĩ ta bắt gặp một tâm hồn tha thiết yêu cuộc sống, yêu thiên cảnh, yêu con người đến khát khao, cháy bỏng một khát vọng sống mãnh liệt đến đau đớn tột cùng. Trong thơ Hàn, nhiều bài thơ mang khuynh hướng siêu thoát vào thế giới siêu nhiên, tôn giáo…nhưng đó là hình chiếu ngược của khát vọng sống, khát vọng giao cảm với đời. Một số bài thơ cuối đời của thi sĩ họ Hàn còn đan xen những hình ảnh ma quái – dấu ấn của sự đau đớn giày vò về thể xác lẫn tâm hồn. Đó là sự khủng hoảng tinh thần, bế tắc và tuyệt vọng trước cuộc đời. Nhưng dù được viết theo khuynh hướng nào, thơ Hàn Mặc Tử vẫn là những vần thơ trong sáng, lung linh, huyền ảo, có một ma lực với sức cuốn hút diệu kì đối với người yêu thơ Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ tiên phong trong việc cách tân thi pháp của phong trào Thơ mới. Thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử là một thế giới đa dạng, nhiều sắc màu, Hàn Mặc Tử đã đưa vào Thơ mới những sáng tác độc đáo, những hình tượng ngôn từ đầy ấn tượng, gợi cảm giác liên tưởng và suy tưởng phong phú. Ngoài bút pháp lãng mạn, nhà thơ còn sử dụng bút pháp tượng trưng và yếu tố siêu thực. Tiếp cận với thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử là cảm nhận được tính hàm súc, mới lạ của ngôn từ, hình ảnh thơ, tính đa nghĩa tạo sinh của văn bản thơ, tính điêu luyện trong cách tổ chức, cấu trúc tác phẩm và tính mơ hồ khó hiểu. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có thể xem là một chủ âm trong cây đàn thơ muôn điệu của Hàn Mặc Tử. Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của hình thức văn học. Văn bản ngôn từ xét về một mặt chỉ là biểu hiện của hình thức bề ngoài của tác phẩm. Tác phẩm trọn vẹn xuất hiện như, một thế giới nghệ thuật, một khách thể thẩm mĩ. Dùng từ “thế giới” để chỉ tác phẩm văn học là có cơ sở khoa học, bởi thuật ngữ “thế giới nghệ thuật” thỏa mãn các ý nghĩa của khái niệm “thế giới” chỉ sự thống nhất vật chất của các biểu hiện đa dạng; có giới hạn về không – thời gian; phạm vi tác động cứ các qui luật chung, chứng tỏ có một trật tự thống nhất cho toàn bộ; có tính đầy đủ về các qui luật nội tại; là một kiểu tồn tại, thực tại. Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người. Tuy nhiên, việc xác định thế giới nghệ thuật như thế nào thì chưa có ý kiến thống nhất. Từ khái niệm “thế giới” nêu trên có thể hiểu “thế giới nghệ thuật” là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ chỉ có trong tác phẩm văn học nói riêng và trong tác phẩm nghệ thuật nói chung, trong cảm thụ của người tiếp nhận, ngoài ra không tìm thấy ở đâu cả. Thế giới nghệ thuật mang tính cảm tính, có thể cảm thấy được và là một kiểu tồn tại đặc thù trong chất liệu và trong cảm nhận của người thưởng thức, là sự thống nhất của mọi yếu tố đa dạng trong tác phẩm. Tóm lại, thế giới nghệ thuật hiểu một cách khái quát là tập hợp tất cả các phương thức, hình thức nghệ thuật biểu hiện mà nhà văn sử dụng để phản ánh và sáng tạo hiện thực. Để tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong Đây thôn Vĩ Dạ, thiết nghĩ cũng cần trở lại một số vấn đề có liên quan đến bài thơ Hồi còn làm ở Sở đạc điền Bình Định, Hàn Mặc Tử có một mối tình đơn phương với Hoàng Thị Kim Cúc – con gái của chủ sở, người Huế. Mối tình chưa được mặn nồng thì Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo nhưng lòng vẫn nuôi hi vọng ở mối tình đơn phương đó. Khi trở lại Qui Nhơn thì Hoàng Cúc đã theo cha về Huế nên thi sĩ rất đau khổ. Về sau khi Hàn mắc bệnh hiểm nghèo, phải xa lánh mọi người để chữa bệnh, Hoàng Cúc đã gửi cho Hàn một tấm thiếp kèm vài lời động viên. Trên tấm thiếp là một bức tranh phong cảnh in hình dòng sông với cô gái chèo thuyền, bên dưới là những cành trúc lòa xòa, phía xa xa là ráng trời, có thể là rạng đông hay hoàng hôn. Nhận được tấm thiệp ở mộtxóm vắng Bình Định –nơicách li để chữa bệnh – nơi rất xa xứ Huế, Hàn Mặc Tử đã nghẹn ngào. Tấm thiếp như một chất xúc tác tác động mạnh mẽ đến hồn thơ Hàn Mặc Tử. Những ấn tượng về xứ Huế đã được đánh thức cùng với niềm yêu đời vô bờ bến. Thi sĩ liền cất bút viết bài thơ này trong một niềm cảm xúc dâng trào. Nội dung tự thân của bài thơ đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một kỉ niệm riêng tư. Được gợi hứng từ tấm thiếp nhưng bài thơ không đơn thuần là những lời vịnh cảnh, vịnh người từ tấm thiếp mà đó là tiếng lòng đầy uẩn khúc của một tình yêu cháy bỏng nhưng vô vọng; một niềm khát vọng sống, thiết tha gắn bó với cuộc đời, nhất là lúc nhà thơ đang mắc phải căn bệnh hiểm nghèo. Đến với thế giới nghệ thuật của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là đến với một thế giới nghệ thuật đầy cá tính sáng tạo, mang những nét riêng, nét dị biệt của một hồn thơ đau thương, đa sầu, đa cảm trước thiên nhiên, cuộc sống và con người. Trước tiên, nhìn từ góc độ không – thời gian nghệ thuật, bài thơ liên kết với nhau không tuân theo tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian cảnh vườn thôn Vĩ tươi sáng trong ánh mai với cảnh sắc bình dị mà tinh khôi, đơn sơ mà tinh tế, nghiêng về cảnh thực; cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo, thực hư xem lẫn vào nhau chập chờn chuyển hóa và hình bóng “khách đường xa” nơi chốn khói sương mông lung, cảnh chìm trong mộng ảo. Không – thời gian nghệ thuật của bài thơ được sáng tạo mang tính chủ quan gắn với tâm lí và cảm quan của nhà thơ. Thời gian trong bài thơ tồn tại không có tính liên tục, bị đứt nối, ngắt quãng cảnh thôn Vĩ vào buổi sớm tinh mơ, cảnh sông nước đêm trăng và cuối bài thơ chỉ còn là thời gian vô thức, không xác định. Thời gian trong Đây thôn Vĩ Dạ như một dòng chảy nhưng đứt nối của một nỗi niềm thiết tha gắn bó với đời, khát vọng sống đến khắc khoải. Thời gian nghệ thuật là một biểu tượng thể hiện một quan niệm thẩm mĩ của nhà văn về cuộc đời và con người. Thời gian trong Đây thôn Vĩ Dạ đã thể hiện quan niệm của Hàn Mặc Tử về thế thái nhân sinh. Cuộc đời là một chuỗi thời gian đứt gãy, chắp nối và cuối cùng tan vào hư vô. Mở đầu bài thơ, thời gian bắt đầu một ngày mới “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”, cảnh vật tràn đầy sức sống. Thời gian thường vận động theo dòng vận động tuyến tính, một chiều. Thế nhưng, nét khác là thời gian trong bài thơ không liên tục mà ngắt quãng. Thời gian mở đầu là buổi sớm tinh khôi nhưng đột ngột chuyển sang đêm trăng đầy mong ngóng, lo âu, buồn đến nao lòng và kết thúc trong thời gian mộng ảo, không xác định. Sự đứt nối thời gian trong bài thơ như một nỗi niềm tâm sự của nhà thơ về cuộc đời và kiếp sống mong manh, đứt đoạn của con người, của Hàn Mặc Tử - một kiếp người dang dở tình duyên và sự nghiệp văn chương. Thời gian của bài thơ không mang tính liên tục còn không gian lại không tuân theo tính duy nhất. Không gian trong Đây thôn Vĩ Dạ là không gian của sự chia lìa. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là mô hình thế giới độc lập, có tính chủ ý và mang ý nghĩa tượng trưng của tác giả, là không gian tinh thần của con người, là không gian sống mà con người cảm thấy trong tâm tưởng. Không gian nghệ thuật là loại không gian Topos, là không gian cảm giác được, là không gian nội cảm chứ không phải như không gian mặt phẳng kiểu Euclip. Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống. Do đó, không thể qui không gian trong Đây thôn Vĩ Dạ về không gian địa lí hay không gian vật lí, vật chất. Không gian trong bài thơ là không gian xứ Huế và không gian một vùng quê Bình Định xa vời, cách trở, huyền hồ “mờ nhân ảnh”. Hai không gian nhuốm màu cách biệt như mối tình đơn phương dang dở của Hàn – Hoàng khiến ta chạnh lòng nhớ lại hai không gian li biệt khi Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều -một cuộc chia li đầy xót xa, đau đớn Người lên ngựa kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san Nhưng dù sao Hàn Mặc Tử vẫn chờ đợi và nuôi mầm hi vọngcho mối tình tuyệt vọng ấy. Hai không gian xa xôi, ngăn cách ấy không phải vì không gian địa lí nào mà đó là sự cách trở của hai tâm hồn, là nỗi niềm thổn thức của Hàn thi sĩ. Không gian ở đây được soi chiếu qua lăng kính cảm xúc chủ quan của nhà thơ. Tóm lại, cả bài thơ liên kết với nhau không theo một trật tự nào của không gian và thời gian. Nhưng về mạch cảm xúc thì vận động nhất quán trong cùng dòng tâm tư đó là lòng yêu đời, lòng ham sống mãnh liệt những đầy uẩn khúc của một hồn thơ, lòng thiết tha với cảnh vật, với con người và cuộc sống. Vì thế, bố cục tuy có vẻ “đầu Ngô mình Sở” những lại liền mạch, liền khổ. Đây là một nét độc đáo của tác phẩm. Thế giới nghệ thuật trong bài thơ còn thể hiện ở sự lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nghệ thuật để miêu tả hiện thực và nội tâm một cách sinh động và sâu sắc. Mở đầu bài thơ, tác giả đã khai thác có hiệu quả biện pháp tu từ truyền thống – câu hỏi tu từ Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền. -Để tham khảo nội dung đầy đủ của tài liệu, các em vui lòng tải về máy hoặc xem trực tuyến- Thế giới nghệ thuật trong Đây thôn Vĩ Dạ nói riêng và trong toàn bộ sự nghiệp văn thơ của Hàn Mặc Tử nói chung là một thế giới đa âm sắc, đầy cá tính sáng tạo, mang tính truyền thống về đề tài nhưng cách tân, hiện đại trong câu chữ, nghệ thuật tạo nên những nét lạ thường, độc đáo. Trong Đây thôn Vĩ Dạ, người đọc nhận ra dạng kết cấu vừa đứt đoạn, vừa liên kết, nhất quán của mạch thơ. Hình ảnh thơ mộc mạc, giản dị nhưng sắc nét. Với thế giới nghệ thuật ấy, Hàn Mặc Tử đã có những đóng góp mới lạ, tạo một phong cách riêng, một thi pháp riêng, một quan niệm nghệ thuật riêng cho Trường thơ loạn nói riêng và cho Thơ mới nói chung. Đây thôn Vĩ Dạ đã trải qua hơn bảy mươi năm thăng trầm cùng kịch sử văn học nhưng nó vẫn giữ nguyên giá trị. Đây cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Hàn Mặc Tử đầy tài năng nhưng tiếc thay đoản mệnh! Như vậy với đề bài Thế giới nghệ thuật trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, HỌC247 đã giúp các em lập dàn ý chi tiết và bài văn mẫu để các em có thể dễ dàng nắm được cách triển khai một bài văn theo dạng đề nghị luận văn học. Qua đó, các em cũng thấy được những nét nghệ thuật đặc sắc như tính hàm súc, mới lạ của ngôn từ, hình ảnh thơ; tính đa nghĩa tạo sinh của văn bản; tính điêu luyện trong cách tổ chức, cấu trúc tác phẩm; tính mơ hồ khó hiểu của một bài thơ mang hơi hướng của sự phá cách trong sáng tác của Hàn Mặc Tử nói riêng và các nhà thơ trên thi đàn văn học nói chung. Bên cạnh việc tìm hiểu về những nét nghệ thuật đặc sắc của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, các em có thể tham khảo thêm phần tổng hợp về các dạng bài phân tích của tác phẩm này tại HỌC247 Đôi nét về tác giả và bài thơ đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Cảm nhận về hai khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Mod Ngữ Văn biên tập và tổng hợp Nội dung, đặc sắc nghệ thuật bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ trong tập “Thơ điên” của Hàn Mặc Tử. Cùng tìm hiểu về tác giả, tác phẩm và bố cục bài thơ.“Đây thôn Vĩ Dạ” là thi phẩm đặc sắc cho hồn thơ Hàn Mặc Tử. Hãy đọc qua bài thơ, và từ đó nêu suy ngẫm của anh/chị về nội dung, đặc sắc nghệ thuật bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.Nội dung, đặc sắc nghệ thuật bài thơ Đây Thôn Vĩ DạNội dung, nghệ thuật bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”Tác giả, tác phẩmHàn Mặc Tử 1912-1940, tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, quê ở Đồng Hới nay là Quảng Bình. Ông là theo đạo Thiên Chúa giáo, ông tôn thờ sự trong sạch thuần khiết. Hàn Mặc Tử là một trong đỉnh cao của phong trào “Thơ mới” Hàn Mặc Tử “lạ nhất” nức tiếng một thời và được vô vàn người yêu quý. Ông là người khởi xướng Trường thơ loạn, và cũng là người tiên phong cho dòng thơ lãng mạn ở Việt Nam. Phong cách thơ Hàn Mặc Tử được đánh giá là độc đáo và kì lạ. Với các tác phẩm tiêu hiểu như “Lệ Thanh thi tập”, “Gái quê”, “Quần tiên hội”,…Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ được tác giả sáng tác năm 1938, in lần lần trong tập “Thơ điên”. Bài thơ được cho rằng, tác giả lấy cảm hứng sáng tác từ cô gái mình thầm thương trộm nhớ, quê ở thôn Vĩ Dạ. Bài thơ được xem là tác phẩm tiêu biểu của nền văn học Việt Nam, và là kiệt tác xuất sắc nhất chặng đường thơ Hàn Mặc cục bài thơBài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử được chia làm ba phần, tương ứng với ba khổ thơ của bàiPhần 1 Khổ thơ thứ nhất Thiên nhiên xanh mát của thôn Vĩ Dạ hiện lên trong tâm tưởng của thi 2 Khổ thơ thứ hai Vẻ đẹp của đêm trăng xứ Huế, và dòng tâm trạng của nhân vật trữ 3 Khổ thơ thứ ba Giữa tâm tưởng mong nhớ của mình, hình ảnh cố nhân hiện lên, nhưng lòng thi sĩ lại ngờ vực, không dám tin mộng lồng mộng.Đặc sắc nội dung và nghệ thuậtĐặc sắc nội dung“Thơ chỉ bật ra trong tim khi cuộc sống đã thật tràn đầy.” Tố Hữu. Qua bài thơ đây thôn Vĩ Dạ, người đọc như nhìn thấy ngòi bút điêu luyện, nhưng cũng chính là lời nói tâm can của tác giả về một thiên nhiên, một kỉ niệm đã xa. Bài thơ với ba khổ thơ tách biệt, nhưng lại là sự thống nhất của bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh, thể hiện nỗi buồn cô đơn của Hàn Mặc Tử trong một mối tình xa xăm, vô vọng. Đó còn là tấm lòng thiết tha của nhà thơ với thiên nhiên, cuộc sống và con người. Là bài thơ viết về vẻ đẹp của tự nhiên, tuy nhiên giọng thơ của thi nhân lại đượm buồn. Nỗi buồn rỉ ngay dưới ngòi bút của một người đã lấy xong cho mình tấm vé đi vào cõi vĩnh hằng. Bài thơ là sự nhận thức của tác giả về việc bản thân sắp ra đi. Đồng thời, bài thơ đã thể hiện rõ ý nguyện muốn được sống, được cống hiến cho cuộc đời của Hàn Mặc Tử. “Đây thôn Vĩ Dạ” cũng thể hiện tình cảm lớn lao của tác giả dành cho xứ Huế mộng mơ. Đặc sắc nghệ thuật“Từ bao giờ đến bây giờ, từ Homero đến Kinh thi cho tới Ca dao Việt Nam. Thơ ca luôn có sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó ra đời trên những vui buồn của loài người và kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế” Hoài Thanh. Có thể nói, với sức sống mãnh liệt và quảng đại, thơ Hàn Mặc Tử là sự cộng hưởng kì lạ giữa nỗi đau và tình yêu. Cấu trúc gián đoạn, nhảy cóc giữa ba khổ thơ khi được giải mã bí mật của ngôn từ lại là một mạch liên tưởng từ quá khứ hiện tại tới tương lai quá khứ trong trẻo, thể hiện ước mơ với sự sống được thể hiện ở khổ thơ thứ nhất; hiện tại hiu hắt, mặc cảm chia kìa ở khổ thơ thứ hai; và tương lai là một cõi hư vô, mờ ảo, tuyệt vọng ở khổ thơ thứ ba. Bài thơ được tác giả sử dụng vốn ngôn từ dễ hiểu, bình dị mà giản đơn trong sáng; qua đó tạo sự gần giũ hơn cho độc thơ còn đi vào cõi bất tử với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng. Bài thơ cũng đã thể hiện được sự vận động của tứ thơ và tâm trạng của chủ thể trữ cạnh đó, tác giả còn sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và câu hỏi tu từ như chứng thực cho những lời nói hờn dỗi, trách móc; mà tha thiết nhớ thương. Đặc sắc nghệ thuật trong từng khổ thơKhổ 1“Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và đầy ám ảnh. Để làm được điều đó, đối với thi sĩ vẫn là điều bí mật.” Trần Đăng Khoa Trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mặc Tử đã mở cánh cửa bí mật của ngôn từ bằng một câu hỏi kì lạ, nhưng cũng đong đầy tình cảm“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”Câu thơ với bảy tiếng, nhưng có tới sáu tiếng thanh bằng tạo nên sự dịu dàng như tâm tình người Huế, sức mạnh của câu thơ chính là ở chất trữ tình ấy. Câu hỏi vừa mở đầu gợi nên nhiều sắc thái liên tưởng vừa như lời người con gái thôn Vĩ đang trách hờn nhân vật trữ tình, xen lẫn vào đó chút giận hờn đầy nữ tính; vừa như lời tự hỏi của chính tác giả Sao lâu rồi chưa về lại thôn Vĩ để thăm chốn xưa, thăm người cũ. Dù là ở sắc thái nào, ta cũng có thể thấy ẩn tàng sau thi ngữ chính là niềm khao khát được trở về thôn Vĩ. Nỗi niềm ấy vừa mãnh liệt, vừa đầu uẩn khúc, không dễ giãi bày. Hai câu thơ tiếp theo hiện lên như “Thơ là bức hoạ để cảm nhận thay vì để ngắm.” Leona Dvanhxi. Có thể nói, ấn tượng đầu tiên trong bức tranh thôn Vĩ của thi sĩ họ Hàn chính là “nắng”. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ với hình ảnh “nắng hàng cau – nắng mới lên”. Trong khu vườn, cau là loài cao nhất, là thực vật đón nắng sớm nhất của cả khu vườn. Và thứ nắng mà cau đón là “nắng mới” – thứ nắng mai trắng trinh nguyên. Tác giả nhắc lại hai lần từ “nắng”, cùng nhấn mạnh phải là “nắng mới lên”, như một nguồn sống sưởi ấm tâm hồn của chính nhân vật trữ tình đang chống chọi với bệnh thơ thứ ba hiện lên, với nhịp thơ ¾, cách sử dụng tính từ “mướt”, và sự so sánh tận độ màu “xanh như ngọc” của vườn thôn Vĩ; câu thơ của Hàn Mặc Tử mở ra một thế giới vừa thực, vừa ảo. Hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” vừa gợi sắc xanh trong, vừa gợi lên độ trân quý của khu vườn. Sắc xanh ấy là sức sóng, là khởi nguyên sự sống, là màu của hy vọng, là sắc tươi ban đầu của mỗi loài thực thơ khép lại khổ một được tác giả sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ. Câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” có thể có nhiều cách hiểu khác nhau Đó có thể là gương mặt “vuông tựa chữ điền”, một gương mặt đầy đặn, phúc hậu trong niềm mến yêu của người xưa khi coi đó là một chuẩn mực cái đẹp của người con gái Huế; đó cũng có thể là gương mặt tự hoạ của thi sĩ trong hành trình trở về thôn Vĩ nơi tư tưởng; đó còn có thể là hình dáng của bức bình phong hình chữ điền quen thuộc của nhà vườn thôn vĩ. Đi liền với nét vẽ thanh tao, đơn sơ, mềm mại của lá 2Nếu khổ thơ thứ nhất, là cảnh một cõi nhân gian ăm ắp sự sống, tràn đầy vẻ đẹp trinh nguyên, trong sáng. Thì khổ thơ thứ 2 là một cõi vũ trụ lạc điệu, vô sắc, vô hương, nhuốm màu của sự mặc cảm, của xa cách, chia lìa.“Gió theo lối gió, mây đường mây”. Trong cõi tự nhiên, gió – mây luôn gắn kết cùng nhau. Tuy nhiên, trong dòng hồi tưởng của tác giả gió – mây đối lập nhau, đường ai nấy đi. Câu thơ cũng là nỗi niềm mặc cảm ẩn chứa của Hàn Mặc Tử. Để rồi, từ sự phi lý của tự nhiên, tác giả thể hiện những hợp lý của tâm trạng trong cảnh ngộ của con người muốn gắn bó tha thiết với cuộc đời, song lại phải vĩnh viễn xa mạch chảy của tâm trạng, câu thơ thứ hai vẫn là sự khác lạ, phản chiếu tâm hồn bi thương của nhà thơ “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”. Nhịp thơ ¾ cộng hưởng với biện pháp tu từ nhân hoá tạo nên một nỗi buồn man mác không tan. “Hoa bắp” một loài hoa vô sắc, vô hương; cũng như tâm hồn tác giả, không có gì lay động được. Nhà thơ Huy Cận cũng đã từng đề cập “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnhMột vì sao trơ trọi cuối trời xaĐể nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránhNhững ưu phiền, đau khổ với buồn lo.”Hai câu thơ tiếp theo cũng vẽ nên một thế giới của cõi mộng ảo, tràn ngập ánh trăng, dòng sông giờ đã trở thành dòng sông trăng, thuyền trở thành thuyền chở hỏi tu từ kết thúc khổ thơ thứ hai, cùng sự nhấn mạnh cụm từ “kịp tối nay” dường như là câu hỏi nhức nhối nhất toàn bài. Sự cố hỏi là khao khát tìm kiếm, sự gặp gỡ, giao cảm cho một linh hồn giá lạnh, tan rã. Và nếu không kịp, nếu không phải là khoảnh khắc của tối nay, chỉ tối nay nữa mà thôi, trăng không đến thì người sẽ vĩnh viễn chìm sâu trong bóng tối, hồn bay phách 3Trong mạch cảm xúc của thi phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ”, nhịp nguồn bắt đầu với ánh nắng ấm áo, tiếp đến là ánh trăng mộng ảo và cuối cùng là ấn tượng về một cõi xa xăm, mờ ảo. Câu thơ đầu tiên xuất hiện từ “mơ” như nhấn mạnh về cõi mơ, nhấn mạnh sắc độ của niềm khao khát “khách đường xa” ấy vĩnh viễn chỉ là mong ước. Bởi ngay từ ở hai khổ thơ trước, với từ “vườn ai” và “thuyền ai” đã cho thấy sự mông lung khó tìm của cố nhân câu thơ cuối, như lời giải thích, những cũng như lời giải bài mộng trong mộng của Hàn Mặc Tử. Nhà thơ gọi “ở đây”, chính là để phân biệt thế giới ngoài kia, với cuộc đời mà người thi sĩ mới hai mươi sáu tuổi đang trải qua. Câu thơ cuối vang lên “Ai biết tình ai có đậm đà” như một lời nói tuyệt vọng của nhân vật trữ tình, là nỗi niềm mà dường như đồng điệu cùng Nguyễn Du hai trăm năm trước “Bất tri tam bách dư niên hậuThiên hạ hà nhân khấp Tố Như”Trên đây là gợi ý về đặc sắc nội dung, nghệ thuật bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” các bạn hãy tham khảo. Chúc các bạn thành công. Ngữ Văn Lớp 11 - HOÀN CẢNH SÁNG TÁC ĐÂY THÔN VĨ DẠ Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những bài thơ xuất sắc trong nghiệp văn chương ngắn ngủi của Hàn Mặc Tử. Bài thơ thành công không bởi những câu từ được đặt để tỉ mỉ, hình ảnh xứ Huế hiện ra thật đẹp mà còn vì câu chuyện tình đơn phương được khuất lấp. Mời bạn đọc cùng tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ. Hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ 1. Tác giả Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí 1912- 1940 là nhà thơ nổi tiếng khởi nguồn cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam. Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Vào khoảng đầu 1935, gia đình phát hiện những dấu hiệu bệnh phong trên cơ thể ông. Vì thành kiến sai lầm rằng đó là căn bệnh truyền nhiễm, các bệnh nhân bấy giờ vừa bất lực vì bệnh tật hành hạ, vừa đau đớn bởi xử xa lánh, hắt hủi và thậm chí là ngược đãi từ những người xung quanh. Gia đình Hàn Mặc Tử phải đưa ông trốn chạy khắp mọi nơi bởi tai mắt của chính quyền địa phương luôn trực chờ mang ông đi. Dẫu rằng nếu đưa ông vào nơi có điều kiện chữa trị nhất lúc bấy giờ là Bệnh viện phong Quy Hòa, ông sẽ không kết thúc cuộc đời của mình ở độ tuổi trẻ như thế. Cuộc đời tuy ngắn ngủi, đau thương nhưng thơ ông lại dồi dào, mạnh mẽ. Hàn Mặc Tử là một hồn thơ mãnh liệt, tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Ở thơ ông, ta thấy từng câu, từng chữ như sự giằng xé, giao tranh để giành lại sinh mệnh với cuộc đời. Xem thêm Top 3 mở bài Đây thôn Vĩ Dạ Nghị luận văn học Đây thôn Vĩ Dạ 2. Hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ Chi tiết hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ “Đây thôn Vĩ Dạ” ban đầu có tên “ Ở đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác năm 1938 in trong tập Thơ Điên sau đổi thành Đau Thương. “Đây thôn Vĩ Dạ” được cho là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại. Bài thơ là những cảm xúc ngổn ngang chất chứa trong lòng Hàn Mặc Tử từ mối tình đơn phương dành cho cô Hoàng Thị Kim Cúc. Cô là nàng thơ xứ Huế mà ông luôn đau đáu hướng về và cũng là mạch nguồn cảm hứng cho những sáng tác của ông. Trong thời gian làm việc tại sở Đạc Điền thuộc Quy Nhơn, ông đã phải làm nét đẹp thơ mộng, e lệ và rất đỗi duyên dáng của cô Hoàng Thị Kim Cúc. Nhưng sâu thẳm trong ông vẫn tồn tại những nhút nhát, e dè giăng mắc khắp tâm tưởng làm ông thật khó giãi bày. Ông chỉ lẳng lặng chôn kín tình cảm ấy vào sâu thẳm nơi trái tim, lẳng lặng để nó phai nhạt khi cô theo cha trở về thôn Vĩ Dạ Huế . Theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh Một người em thúc bá, bạn của Hàn Mặc Tử đã thay ông tâm tình hết nỗi lòng đến cô. Dưới sự gợi ý của người em ấy, cô đã gửi cho nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp cảnh sông nước có thuyền và bến, kèm mấy lời nhắn nhủ. Xem thêm Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Khung cảnh thôn Vĩ Dạ trong bài Đây thôn Vĩ Dạ Những lời ấy như vực dậy cõi lòng đã chết của nhà thơ trong lúc ông đang chiến đấu với căn bệnh phong. Lời thăm hỏi không ký tên nhưng bức ảnh và cả những con chữ kia đã thôi thúc chút nghị lực sống vốn từ lâu đã điêu tàn trong ông. Chúng kích thích trí tưởng tượng và gợi lại những nỗi niềm thầm kín vốn đã vùi chôn theo năm tháng. Theo Nguyễn Bá Tín, em ruột nhà thơ Hàn Mạc Tử cho biết “Năm 1938, Hoàng Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng Tùng Ngâm. Nàng chuẩn bị một số tiền định gửi cho Hàn Mặc Tử uống thuốc nhưng không dám gửi. Nàng bèn gửi cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh chụp cảnh nàng mặc áo lụa dài trắng đứng dưới vòm cây xanh mát. Nhận được ảnh, Hàn Mặc Tử rất vui. Chàng liền làm ngay bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ gửi ra Huế cho Hoàng Cúc..”. Bất luận nội dung của bức thư và cả những lời nhắn gửi của cô gái xứ Huế là gì, đó vẫn là khởi nguồn bất tận cho niềm cảm hứng sáng tác nên áng thơ Đây thôn Vĩ Dạ đầy nhân văn. Đấy còn là liều thuốc chữa lành cho những tâm bệnh trong ông những ngày tháng cuối đời. 3. Ý nghĩa tác phẩm Hoàn cảnh sáng tác của Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ nhẹ nhàng nhất trong tập Thơ Điên bởi lúc bấy giờ, ông đang từng giây, từng khắc chiến đấu với căn bệnh hiểm nghèo. Trong thời kỳ bệnh tật đau đớn điên cuồng cả thể xác lẫn tâm hồn. Thơ ông như một tiếng thở dài mang đầy những gào thét uất hận, nghẹn ngào. Đây thôn Vĩ Dạ đang là một bức tranh xứ Huế nên thơ đến thế, trọn vẹn đến thế nhưng cuối cùng lại kết thúc bằng một sự tự vấn “ Ai biết tình ai có đậm đà”. Một cảm xúc hoài nghi len lỏi khắp câu thơ, như tiếng lòng thi sĩ đang tơ tưởng bóng hình giai nhân, cũng là một tiếng oán trách cuộc đời khi đã đặt một dấu chấm kết thúc khi ông đang ở độ tuổi còn quá tha thiết với đời. Xem thêm Phân tích Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất Nghệ thuật bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất Trên đây là hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ. Qua hoàn cảnh sáng tác bài thơ, ta có thể thấu hiểu hơn về tác giả, dù trong thời kỳ gian khổ khi phải đấu tranh với bệnh tật thế nhưng không thể ảnh hưởng đến tinh thần, tâm hồn ông.

nghệ thuật bài thơ đây thôn vĩ dạ