Nguyễn Văn Hưởng (thầy thuốc) Nguyễn Văn Hưởng ( 1906 - 1998) là Giáo sư, Bác sĩ vi trùng học và Đông y, cố Bộ trưởng Bộ Y tế, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa I, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Do khó khăn về tài chính bán đất vị trí đặt ngay ở Nguyễn Văn Linh, Hương Sơ giá giao - Đất; Diện tích: 100 m2; Mặt tiền: 5m; Ngõ 4 ô tô trở lên; Hướng: Bắc; 2,8 Tỷ.
Theo số liệu thống kê của Uỷ ban an toàn giao thông Quốc gia, trong năm 2004 đã xảy ra 19.852 vụ tai nạn giao thôn đường bộ, làm chết 11.319 người và bị thương hơn 20.000 người khác. Số vụ tai nạn giao thông được xác định chủ yếu trên các “điểm đen”.
Thông tư 01/2011/TT-BNV_Hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản . 0 / 0; Nhấn vào đây để tải về
Tồn xã hội sinh ý thức xã hội Tức người ta khơng thể tìm thái ý thức xã hội khác nhau: ý thức trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, triết học, khoa học Về mối quan hệ biện chứng tồn xã hội ý thức xã hội: a Tồn xã
SCj0b. Từ khoá Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản... Thuộc tính Nội dung Tiếng Anh English Văn bản gốc/PDF Lược đồ Liên quan hiệu lực Liên quan nội dung Tải về Số hiệu 10/VBHN-BTC Loại văn bản Văn bản hợp nhất Nơi ban hành Bộ Tài chính Người ký Trương Chí Trung Ngày ban hành 26/05/2015 Ngày hợp nhất Đã biết Ngày công báo Đã biết Số công báo Đã biết Tình trạng Đã biết BỘ TÀI CHÍNH - CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - Số 10/VBHN-BTC Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2015 NGHỊ ĐỊNH1 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ TÀI NGUYÊN Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Thuế tài nguyên ngày 25 tháng 11 năm 2009; Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính2, NGHỊ ĐỊNH Chương 1 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 2, Điều 5, Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thuế tài nguyên. Điều 2. Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế tài nguyên thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế tài nguyên, bao gồm 1. Khoáng sản kim loại. 2. Khoáng sản không kim loại. 3. Dầu thô theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Dầu khí năm 1993. 4. Khí thiên nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Dầu khí năm 1993. 5. Khí than theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2008. 6. Sản phẩm của rừng tự nhiên, bao gồm các loại thực vật và các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên, trừ động vật và hồi, quế, sa nhân, thảo quả do người nộp thuế trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ. 7. Hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực vật biển. Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất, trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp và nước biển để làm mát máy. Nước biển làm mát máy quy định tại Khoản này phải đảm bảo các yêu cầu về môi trường, về hiệu quả sử dụng nước tuần hoàn và điều kiện kinh tế kỹ thuật chuyên ngành. Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ liên quan để hướng dẫn nước biển làm mát máy thuộc đối tượng không chịu thuế tài nguyên quy định tại khoản này. Yến sào thiên nhiên, trừ yến sào do tổ chức, cá nhân thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác. 10. Tài nguyên khác do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. Chương 2 CĂN CỨ TÍNH THUẾ Điều 3. Sản lượng tài nguyên tính thuế Sản lượng tài nguyên tính thuế thực hiện theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế tài nguyên. Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối m3 hoặc lít l theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam. Trường hợp không trực tiếp xác định được sản lượng tính thuế thông qua hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo kỳ tính thuế. Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan có liên quan ở địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác được khoán để tính thuế căn cứ vào tình hình khai thác thực tế, định mức tiêu chuẩn kỹ thuật ngành hoặc sản lượng khai thác sử dụng của tổ chức, cá nhân khác tương đương. Bộ Tài chính quy định phương thức xác định sản lượng tính thuế quy định tại Điều này. Điều 4. Giá tính thuế Giá tính thuế tài nguyên thực hiện theo quy định tại Điều 6 Luật Thuế tài nguyên, cụ thể 1. Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. 2. Trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán thì giá tính thuế tài nguyên được xác định theo một trong những căn cứ sau a Giá bán thực tế trên thị trường khu vực trong phạm vi địa bàn cấp tỉnh của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; b Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định. 3. Giá tính thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau a Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện là giá bán điện thương phẩm bình quân; b Đối với gỗ là giá bán tại bãi giao kho, bãi nơi khai thác; trường hợp chưa xác định được giá bán tại bãi giao thì giá tính thuế được xác định căn cứ vào giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; c5 Đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu là trị giá hải quan của tài nguyên khai thác xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu. Trường hợp tài nguyên khai thác vừa tiêu thụ nội địa và xuất khẩu - Đối với sản lượng tài nguyên tiêu thụ nội địa là giá bán đơn vị tài nguyên khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. - Đối với sản lượng tài nguyên xuất khẩu là trị giá hải quan của tài nguyên khai thác xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu. Trị giá hải quan của tài nguyên khai thác xuất khẩu thực hiện theo quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu tại Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành. d Đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là giá bán tại điểm giao nhận. Điểm giao nhận là điểm được thỏa thuận trong hợp đồng dầu khí mà ở đó dầu thô, khí thiên nhiên, khí than được chuyển giao quyền sở hữu cho các bên tham gia hợp đồng dầu khí. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể giá tính thuế tài nguyên khai thác quy định tại Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều này. Trường hợp tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu thì giá tính thuế tài nguyên khai thác được xác định căn cứ vào trị giá hải quan của sản phẩm đã qua sản xuất, chế biến xuất khẩu hoặc giá bán sản phẩm đã qua sản xuất, chế biến trừ thuế xuất khẩu nếu có và các chi phí có liên quan từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu xuất khẩu hoặc từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu bán tại thị trường trong nước. Căn cứ giá tính thuế tài nguyên đã xác định để áp dụng sản lượng tính thuế đối với đơn vị tài nguyên tương ứng. Giá tính thuế đối với tài nguyên khai thác được xác định ở khâu nào thì sản lượng tính thuế tài nguyên áp dụng tại khâu đó. Bộ Tài chính có trách nhiệm a Hướng dẫn việc xác định giá tính thuế tài nguyên quy định tại các Điểm a, d Khoản 3 Điều này và các trường hợp cụ thể khác; b Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan quy định khung giá tính thuế tài nguyên đối với nhóm, loại tài nguyên có tính chất lý, hóa giống nhau; c Hướng dẫn chi phí sản xuất, chế biến được trừ để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định giá tính thuế tài nguyên khai thác quy định tại Khoản 4 Điều này; d Xây dựng cơ sở dữ liệu về giá tính thuế tài nguyên để thực hiện thống nhất trên toàn quốc. Điều 5. Thuế suất 1. Mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên thực hiện theo Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành. 2. Căn cứ các nguyên tắc quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Thuế tài nguyên, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh mức thuế suất đối với từng loại tài nguyên trong Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên. Chương 3 MIỄN, GIẢM THUẾ Điều 6. Miễn, giảm thuế Miễn, giảm thuế tài nguyên thực hiện theo quy định tại Điều 9 Luật Thuế tài nguyên. Trường hợp khác được miễn, giảm thuế tài nguyên, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. Chương 4 ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH8 Điều 7. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2010. Bãi bỏ Nghị định số 05/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế tài nguyên và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên. Điều 8. Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./. XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG Trương Chí Trung 1 Văn bản này được hợp nhất từ 02 Nghị định sau - Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010; - Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế, có hiệu lực kể từ 01 tháng 01 năm 2015. Văn bản này không thay thế 02 Nghị định nêu trên. 2 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế có căn cứ ban hành như sau “Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm 2012; Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 21 tháng 11 năm 2007 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 22 tháng 11 năm 2012; Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 03 tháng 6 năm 2008 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 19 tháng 6 năm 2013; Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 03 tháng 6 năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 19 tháng 6 năm 2013; Căn cứ Luật Thuế tài nguyên ngày 25 tháng 11 năm 2009; Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế ngày 26 tháng 11 năm 2014; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế.” 3 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 12/2015/ NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. 4 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 12/2015/ NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. 5 Điểm này được sửa đổi theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 12/2015/ NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. 6 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. 7 Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. 8 Điều 6 của Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 quy định như sau “Điều 6. Hiệu lực và trách nhiệm thi hành 1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế ngày 26 tháng 11 năm 2014 có hiệu lực thi hành. 2. Bãi bỏ các nội dung quy định về tỷ giá khi xác định doanh thu, chi phí, giá tính thuế, thu nhập tính thuế, thu nhập chịu thuế quy định tại các Điều 7, 8 Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2010; Khoản 9 Điều 4 Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2009 và Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 113/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ. 3. Bãi bỏ Điểm n Khoản 2 Điều 3 và Điểm g Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ. 4. Bãi bỏ các Điều 7, 8, 9, 10, 19, 20, 21 và các quy định về thu nhập từ kinh doanh tại các Điều 12, 13 và 14 tại Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ. 5. Bãi bỏ Điểm c Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ. 6. Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định này. 7. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này”. Lưu trữ Ghi chú Ý kiếnFacebook Email In Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh Văn bản hợp nhất 10/VBHN-BTC ngày 26/05/2015 hợp nhất Nghị định hướng dẫn Luật Thuế tài nguyên do Bộ Tài chính ban hành
Cảm ơn bạn đã tải Thông tư 140/2020/TT-BCA triển khai chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của lực lượng CAND Nếu quá trình tải chưa bắt đầu, vui lòng nhấn vào đây! Bạn có thể tải về tập tin thích hợp cho bạn tại các liên kết dưới dây. Thông tư 140 2020/TT-BCA được Bộ công an ban hành về triển khai chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của lực lượng CAND
Cho tôi hỏi cách thực hiện thủ tục khai quyết toán thuế tài nguyên đối với cơ sở khai thác tài nguyên? - Câu hỏi của chị Chi tại Hà Nội. Cơ sở khai thác tài nguyên có phải thực hiện quyết toán thuế tài nguyên năm hay không? Trình tự thực hiện thủ tục khai quyết toán thuế tài nguyên đối với cơ sở khai thác tài nguyên? Hồ sơ khai quyết toán thuế tài nguyên đối với cơ sở khai thác tài nguyên bao gồm những gì? Mẫu Tờ khai quyết toán thuế tài nguyên được quy định như thế nào? Cơ sở khai thác tài nguyên có phải thực hiện quyết toán thuế tài nguyên năm hay không?Căn cứ điểm a khoản 6 Điều 8 Nghị định 126/2020/NĐ-CP có quy định như sauCác loại thuế khai theo tháng, khai theo quý, khai theo năm, khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế và khai quyết toán thuế...6. Các loại thuế, khoản thu khai quyết toán năm và quyết toán đến thời điểm giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng hoặc tổ chức lại doanh nghiệp. Trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp không bao gồm doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà doanh nghiệp chuyển đổi kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp được chuyển đổi thì không phải khai quyết toán thuế đến thời điểm có quyết định về việc chuyển đổi doanh nghiệp, doanh nghiệp khai quyết toán khi kết thúc năm. Cụ thể như saua Thuế tài đó,thuế tài nguyên là 1 trong những loại thuế được các chủ thể thực hiện quyết toán dẫn thực hiện thủ tục khai quyết toán thuế tài nguyên đối với cơ sở khai thác tài nguyên? Hình từ InternetTrình tự thực hiện thủ tục khai quyết toán thuế tài nguyên đối với cơ sở khai thác tài nguyên?- Bước 1 Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên lập hồ sơ khai quyết toán thuế tài nguyên và gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp Trường hợp Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên có trụ sở chính tại tỉnh, thành phố này nhưng có hoạt động khai thác tài nguyên tại tỉnh, thành phố khác thì nộp hồ sơ khai thuế tại Cục Thuế hoặc Chi cục Thuế do Cục trưởng Cục Thuế nơi phát sinh hoạt động khai thác tài nguyên quy chức, cá nhân có nhà máy sản xuất thuỷ điện thực hiện lập hồ sơ khai quyết toán thuế tài nguyên theo mẫu số 02/TAIN, gửi cho cơ quan thuế quản lý khoản thu ngân sách nhà nước nơi có hoạt động khai thác tài nguyên hợp tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất thủy điện mà hồ thủy điện của nhà máy thủy điện nằm trên nhiều tỉnh thì nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tài nguyên và phụ lục bảng phân bổ số thuế tài nguyên phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với hoạt động sản xuất thủy điện của nhà máy thủy điện tại cơ quan thuế nơi có văn phòng điều hành nhà máy thủy điện và nộp số tiền thuế phân bổ cho tỉnh nơi có hồ thủy điện theo quy hạn nộp hồ sơ Chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 3 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính hoặc là ngày thứ 45 kể từ ngày chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng hoặc tổ chức lại doanh Bước 2. Cơ quan thuế thực hiện tiếp nhậnCơ quan thuế thực hiện tiếp nhận, giải quyết hồ sơ theo quy định đối sơ hồ sơ được nộp trực tiếp tại cơ quan thuế hoặc hồ sơ được gửi qua đường bưu chính. Trường hợp hồ sơ được nộp đến cơ quan thuế thông qua giao dịch điện tử, việc tiếp nhận, kiểm tra, chấp nhận, giải quyết hồ sơ thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan ra, chủ thể thực hiện có thể lựa chọn 1 trong những cách thức thực hiện sau- Nộp trực tiếp tại trụ sở cơ quan thuế ;- Hoặc gửi qua hệ thống bưu chính;- Hoặc gửi hồ sơ điện tử đến cơ quan thuế qua giao dịch điện tử Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế/Cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức cung cấp dịch vụ T-VANHồ sơ khai quyết toán thuế tài nguyên đối với cơ sở khai thác tài nguyên bao gồm những gì?Căn cứ tiểu mục Mục 5 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 126/2020/NĐ-CP, hồ sơ khai quyết toán thuế tài nguyên đối với cơ sở khai thác tài nguyên bao gồm- Tờ khai quyết toán thuế tài nguyên theo mẫu số 02/TAIN tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 80/2021/TT-BTC- Phụ lục bảng phân bổ số thuế tài nguyên phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với hoạt động sản xuất thủy điện - mẫu số 01-1/TAIN ban hành kèm theo Thông tư 80/2021/TT-BTCMẫu Tờ khai quyết toán thuế tài nguyên được quy định như thế nào?Hiện nay Mẫu tờ khai quyết toán thuế tài nguyên theo mẫu số 02/TAIN tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 80/2021/TT-BTC,cụ thể như sauTải Mẫu tờ khai quyết toán thuế tài nguyên tại đây
Phóng toNhà văn Nguyên Hương trái và Ngọc Tư tại buổi giao lưu với các bạn trẻ - Ảnh - Nguyên Hương được bạn đọc biết đến từ năm 1995 khi chị đoạt giải nhất cuộc thi Văn học tuổi 20 với tập truyện ngắn Quà muộn. Mười năm qua, chị lặng lẽ sáng tác nơi cao nguyên Buôn Ma Thuột, 14 tập truyện ngắn và truyện dài của chị được xuất bản đều đặn qua ngần ấy năm. Điều quan trọng hơn con số là các truyện của Nguyên Hương thấm đẫm tính nhân bản trên mỗi thân phận con người. Website thương nhớ là tập truyện mới nhất của chị do NXB Trẻ vừa ấn hành. * Khi viết, chị có nghĩ giữa viết kết thúc có hậu với kết thúc không có hậu thì cái nào nên hơn, thưa chị? - Cố tình kết không có hậu khác với nó là như vậy. Cũng như cố tình có hậu khác với cuộc đời vẫn đẹp sao. * Như vậy là có một cuộc đời riêng cho mỗi truyện? Và sự "chi phối" của nhà văn như thế nào, khi mà mình có quyền tạo nên một cái logic để dẫn đến kết thúc? - Trời ơi, cái điều thuộc bí quyết gia truyền mà nói ra thì... Thật ra, cái quyền tạo nên một cái logic không hoàn toàn thuộc về nhà văn đâu, dù rằng mình sinh ra nó. * Thế cái logic ấy, nó thuộc về ai? - Khó giải thích bằng lời quá. Có lẽ phải dùng đến "cảm" thôi. * Tức là, có thể hiểu thế này "Thoạt đầu thì nhà văn đóng vai trò tạo ra câu chuyện, cái giai đoạn dùng lý trí để sáng tạo ấy nhanh chóng qua đi tùy người và kết thúc như thế nào lại tùy thuộc vào sự "cảm" của tác giả để câu chuyện có một logic riêng". Có đúng thế không ạ? - Không. Mình không nghĩ vậy. Không phân định rạch ròi giữa lý trí và cảm như vậy được. Ở Buôn Ma Thuột của tôi của tôi!, có một thú chơi dính dáng tới gốc cây cà phê. Người ta chọn những gốc có dáng đẹp, rồi tỉa tót cho nó thành một tác phẩm. Tác phẩm sản phẩm có thể là một cái đôn đặt chậu hoa kiểng, có thể là một mặt người, có thể là một con rắn, có thể là một loại cây trái ngộ nghĩnh nào đó… Và tôi nghĩ người làm nên tác phẩm đó, nếu cầm gốc cà phê thô ban đầu mà không cảm thấy ít ra là hao hao nó sẽ là gì, thì sẽ không thể tạo ra một sản phẩm. Và người ta không thể tạo ra một sản phẩm với đơn thuần cảm thấy. Kinh Phật có câu "Y liễu nghĩa bất y ngữ nghĩa". * Người đọc biết chị từ 1995 với giải thưởng Văn học tuổi hai mươi, nhưng chị viết từ bao giờ? - Từ thuở mơ mộng. * Trong 14 tập đã in cho đến năm nay, chủ yếu là viết từ 1995 trở đi, còn phần trước 1995 có nhiều không? - Viết, rồi giấu, rồi viết, rồi cất... là bệnh của những cô bé mộng văn chương. Lớn lên, quên. Nó vẫn đâu đó thỉnh thoảng nhớ lại. Truyện SOS tôi viết năm 1993, sau chuyến đi Đà Lạt tình cờ được ở tại làng SOS. Hồi đó, thích đi đây đó mà tiền không có, chỉ đủ vé xe, nên chuyện tìm người quen để có chỗ ngủ nhờ là rất quan trọng. Thế rồi người bạn đi cùng rủ lới làng SOS thăm người quen, người quen đó rủ ở lại vì suốt ngày với lũ nhỏ nên chị ấy buồn. Thế là tình cờ được ăn uống ngủ nghỉ cùng với bọn nhỏ, và chứng kiến mọi thứ. * Chị có cho việc viết văn là cái mà chị phải làm mỗi ngày tương đối thôi không? - Thích được làm mỗi ngày chứ không "phải làm mỗi ngày". Mình thích viết, và vẫn viết mỗi ngày. * Chị có nhận định gì về luật nhân quả với những thân phận con người? - Không dám nhận định đâu. Tôi tin. * Trở lại vấn đề "tỉa tót gốc cà phê", khi lâu quá mà ít thấy thợ tỉa tót nào cho ra sản phẩm tốt, với điều kiện thực tại ở VN, chị có nghĩ là bởi thiếu gốc cà phê hay là thiếu thợ, hay là cái gì khác nữa? - Thật tình là, khi đọc những bài phỏng vấn, tôi thấy… khó nói quá đi mất. Tôi rất ngại đề cập đến những vấn đề như thế. Vì muốn trả lời, mình phải vượt qua được cá nhân chủ nghĩa, và phải bao quát được nhiều nhiều. * Chị có theo dõi giải Nobel văn chương đọc thôi không? - Chút chút. * Chị có nghĩ là đến một lúc nào đó thì VN cũng sẽ có giải Nobel văn chương? - "Sẽ" là một từ thuộc về tương lai, nó cho người ta niềm hy vọng. Cứ hy vọng đi, và nỗ lực cho điều đó. Phóng toBìa tập truyện ngắn Wesite thương nhớ của Nguyên HươngWesite thương nhớ - Tập truyện ngắn mới nhất của Nguyên Hương đem lại cho người xem những thú vị riêng. Đọc văn của chị, thoạt đầu cứ nghĩ chuyện viết lách cũng đơn giản thôi, mọi việc đang diễn ra xung quanh ta đây mà, những câu chuyện đang ở gần bên ta đây thôi, chỉ cần ghi lại… Nhưng gấp sách, những phận người trong chuyện có lẽ vì gần với ta quá, mà đeo đuổi ta, khiến ta dừng lại, suy nghĩ một tẹo, rồi bỗng thấy những điều nhà văn tâm sự ấy thực ra khó mà nắm bắt được lắm, làm sao mà cái chị nhà văn này lại bắt được tình tiết ấy nhỉ? Nguyên Hương dồn tâm lực ngòi bút vào những quan hệ gia đình, cái tế bào ấy trong quan hệ xã - hội - tác - phẩm của chị thật đặc biệt chị khai thác những góc cảm những biên độ tình người trong mối tương quan khó hình dung nhất của gia đình, mà vẫn thuyết phục, cảm dộng, và hay. Cái éo le của gia đình trong truyện Dolly là sự dũng cảm của tác giả khi hạ bút cho nhân vật chính chết trong một “tình tiết thời sự” là cháy trung tâm thương mại quốc tế; sự trắc trở của hai mẹ con người làm chả cá thuê để được ở gần trại tù thăm chồng cũng cho một hình dung về mẫu gia đình đâu đây gần lắm Mùa cá đỏ, rồi gia đình của đôi trẻ được tạo thành từ một sự bao dung rất là đời một nhân vật nổi tiếng đứng ra bao dung nhận làm cha nuôi cho anh con trai nghèo không biết xuất thân. Câu chuyện gây một chút ngờ vực về lòng tốt của người cha nuôi nọ, nhưng rõ ràng, đó là một tình huống gia đình được kiến tạo không hề phi lý, dẫu là tình người chỉ được đặt trên nền của ước mơ Món Quà. Lại có những tình cảm đan xen giữa hai gia đình Thiện -Mỹ và Bích - Đức trong truyện Một nửa. Những cung bậc tình cảm nhẹ nhàng thôi, nhưng nó là thế, vẫn hết sức bình thường tồn tại trong những quan hệ gọi là gia đình….
ban co thuc tai nguyen van huong